Bệnh Lý Tim Mạch 12:07 01/07/2018

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG)

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG) là loại phẫu thuật giúp cải thiện lưu lượng máu đến tim, là biện pháp điều trị cho người mắc bệnh lý mạch vành nặng (BMV). Theo thống kê từ Hội Tim Mạch Hoa Kỳ, đây là một trong những loại phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất tại Mỹ vào năm 2004 với 427.000 ca. Vậy ai là đối tượng cần đến loại đại phẫu này? Tầm quan trọng của phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành ra sao?

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG) là gì?

Ở bệnh nhân mắc BMV, mảng xơ vữa tích tụ ở thành các động mạch của tim gây hẹp lòng mạch dẫn đến cản trở dòng máu đến nuôi cơ tim. Mảng xơ vữa có cấu tạo chủ yếu là cholesterol. Sự tích tụ mảng xơ vữa có thể là hậu quả của thuốc lá, tăng huyết áp, tăng cholesterol và đái tháo đường. Tiến trình xơ vữa làm cho một hoặc nhiều động mạch vành hẹp lại đáng kể. Khi động mạch vành hẹp hơn 50% đến 60%, lượng máu đến cung cấp cho vùng cơ tim phía sau mảng xơ vữa bị hạn chế, không đủ đáp ứng với nhu cầu oxy tăng cao khi người bệnh hoạt động cường độ mạnh, cơ tim thuộc vùng tưới máu của những động mạch này sẽ bị thiếu oxy (thiếu máu cục bộ) và bệnh nhân sẽ cảm thấy đau thắt ngực. Khi động mạch vành đột ngột bị tắc hoàn toàn do cục máu đông, vùng cơ tim tương ứng với động mạch đó bị thiếu máu và hoại tử, tình trạng này được gọi là nhồi máu cơ tim.

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành, hay phẫu thuật CABG là kỹ thuật sử dụng một đoạn động mạch hoặc tĩnh mạch khỏe mạnh từ một phần khác của cơ thể để nối vào phía sau vị trí động mạch vành bị tắc nghẽn, giúp dòng máu lưu thông theo đường vòng qua chỗ bị tắc. Các tĩnh mạch vùng cẳng chân hoặc động mạch vú trong có thể được sử dụng cho phẫu thuật bắc cầu. Phẫu thuật này sẽ giúp khôi phục lại sự lưu thông bình thường của dòng máu đến cơ tim ở các bệnh nhân mắc bệnh mạch vành (BMV).

Bác sĩ phẫu thuật có thể bắc cầu nối qua nhiều động mạch vành trong một lần phẫu thuật.

Có bao nhiêu phương pháp phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành?

 Có hai phương pháp phẫu thuật động bắc cầu động mạch vành (CABG) như: Phẫu thuật CABG có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể (tim ngừng đập trong quá trình phẫu thuật với sự hỗ trợ của máy tim phổi nhân tạo) và phẫu thuật CABG không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể (tim vẫn đập trong quá trình phẫu thuật và không cần sự hỗ trợ của máy tim phổi nhân tạo).

Bác sĩ sẽ đề xuất phương pháp tốt nhất cho bạn dựa trên tình trạng chung và đặc điểm tổn thương của người bệnh.

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể

CABG có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể được sử dụng khi cần bắc cầu qua ít nhất một nhánh động mạch vành chính bị tắc nghẽn. Trong quá trình phẫu thuật, xương ức (xương nằm chính giữa phía trước của lồng ngực) được mở ra để mở đường vào tim.

Thuốc bảo vệ cơ tim sẽ được sử dụng khi tim ngừng đập tạm thời; máy tim phổi nhân tạo sẽ thay thế tim giúp bơm máu và oxy đi khắp cơ thể trong khi phẫu thuật. Điều này cho phép các bác sĩ tiến hành phẫu thuật trên một trái tim đứng yên.

Sau khi hoàn tất quá trình bắc cầu nối, dòng máu đến tim được phục hồi, trái tim sẽ tự đập trở lại. Đôi khi sẽ cần sử dụng một dòng điện để kích thích hoạt động trở lại của trái tim.

Phẫu thuật CABG không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể

Phương pháp này tương tự như CABG có sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể ở chỗ xương ngực ức được mở để tiếp cận đến tim. Tuy nhiên, không cần phải làm tim ngừng hoạt động, và máy tim-phổi nhân tạo không được sử dụng. Vì thế, phẫu thuật CABG không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể đôi khi còn được gọi là ‘Phẫu thuật bắc cầu trên tim đang đập’

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG) được dành cho đối tượng nào?

Phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành (CABG) được sử dụng để điều trị những người bị hẹp hoặc tắc nhiều nhánh động mạch vành hoặc sau nhồi máu cơ tim.

 (+) CABG cũng có thể là một lựa chọn điều trị nếu động mạch vành của bạn bị tắc nghẽn mà không thể điều trị được bằng phương pháp can thiệp mạch vành qua da (PCI), hay nong và đặt stent động mạch vành.

Bác sĩ của bạn sẽ quyết định xem bạn có phải là đối tượng cho CABG dựa trên các yếu tố như:

  • Mức độ triệu chứng BMV của bạn.
  • Mức độ nghiêm trọng và vị trí tắc nghẽn trong động mạch vành.
  • Đáp ứng của bạn với các phương pháp điều trị khác (dùng thuốc, can thiệp động mạch vành qua da)
  • Chất lượng cuộc sống của bạn
  • Các bệnh lý đồng thời khác mà bạn mắc.

Thăm khám lâm sàng và các xét nghiệm chẩn đoán

Để biết bạn có phải là đối tượng cho CABG, bác sĩ sẽ cho khám sức khỏe. Bác sĩ sẽ kiểm tra tim, phổi của bạn. Bác sĩ cũng có thể hỏi bạn về bất kỳ triệu chứng nào bạn có, chẳng hạn như đau ngực hoặc khó thở.  Bác sĩ của bạn sẽ đề nghị các xét nghiệm để tìm ra động mạch bị tắc, và liệu bạn có bị tổn thương tim hay không.

Để biết liệu bạn có phải là đối tượng phù hợp cho CABG, bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng, kiểm tra tim, phổi và các mạch máu khác của bạn (như động mạch cảnh vùng cổ, động mạch thận và các mạch máu ở hai chân). Bác sĩ cũng cần biết các triệu chứng của bạn, như đau ngực hoặc khó thở, xuất hiện từ bao giờ, có xảy ra thường xuyên không, có kéo dài không, cũng như mức độ nặng của các triệu chứng ấy. Tùy trường hợp cụ thể, bác sỹ sẽ chỉ định một số thăm dò khác cần tiến hành để đánh giá khả năng co bóp và tưới máu của tim như siêu âm tim, chụp cộng hưởng từ, xạ hình cơ tim...

Những thăm dò thường được chỉ định gồm:

Điện tâm đồ (ECG)

Điện tâm đồ là một xét nghiệm đơn giản để ghi lại hoạt động điện của trái tim. Kết quả sẽ cho thấy tần số đập của tim, đều hay không đều, cường độ và thời gian của các tín hiệu điện khi truyền qua các phần khác nhau của trái tim. Nhờ vậy, điện tâm đồ có thể cho thấy các dấu hiệu của tổn thương cơ tim do bệnh lý mạch vành, các dấu hiệu của nhồi máu cơ tim. 

Siêu âm tim

Siêu âm tim sử dụng những sóng siêu âm để ghi nhận và tái hiện hình ảnh và chuyển động trái tim của bạn. Siêu âm cho thấy hình dạng, kích cỡ của trái tim, đánh giá chức năng hoạt động của các buồng tim và van tim.

Siêu âm cũng có thể cho thấy những vùng cơ tim bị thiếu máu nuôi dưỡng và không co bóp được như bình thường, và những vùng cơ tim tổn thương do thiếu máu từ trước.

Có một vài phương pháp siêu âm tim, trong đó có siêu âm tim gắng sức. Ở phương pháp này, siêu âm tim được làm trước và sau khi bạn thực hiện bài thử nghiệm gắng sức. Siêu âm tim gắng sức thường dùng để xác định xem có sự giảm tưới máu cho cơ tim, một dấu hiệu của bệnh lý mạch vành, hay không.

Nghiệm pháp gắng sức

Tình trạng thiếu máu cơ tim sẽ biểu hiện rõ hơn và dễ được chẩn đoán hơn khi tim của bạn hoạt động cường độ mạnh.

Trong thử nghiệm gắng sức, bạn sẽ chạy trên thảm chạy hoặc đạp xe với lực kế để làm tăng nhu cầu ô xy của cơ thể khiến cho trái tim của bạn tăng cường hoạt động. Nếu bạn không thể vận động gắng sức thể lực, bạn có thể được truyền thuốc để làm tăng nhịp tim.

Các phương pháp thăm dò được thực hiện trong quá trình gắng sức bao gồm điện tim, siêu âm tim, chụp xạ hình tưới máu cơ tim, chụp cộng hưởng từ tim.

Chụp động mạch vành

Chụp động mạch vành là một phương pháp sử dụng thuốc cản quang và tia X để dựng hình hệ thống mạch vành của bạn.

Để đưa chất cản quang vào động mạch vành của bạn, bác sĩ thực hiện thủ thuật sẽ sử dụng một ống thông nhỏ gọi là catheter đưa vào động mạch quay trên tay bạn hoặc động mạch đùi, sau đó ống thông sẽ được luồn vào đến động mạch vành của bạn. Các chất cản quang sẽ được bơm vào để tái hiện lại hình ảnh hệ động mạch vành và dòng chảy của máu qua đó. Điều này giúp các bác sỹ tìm ra vị trí hẹp hoặc tắc nghẽn tại từng mạch máu. 

Kết quả dài hạn sau phẫu thuật

Khoảng 10% tĩnh mạch ghép bị tắc lại trong vòng 2 tuần đến 1 năm sau khi phẫu thuật. Sử dụng aspirin đã được chứng minh rằng có thể giảm tỷ lệ tĩnh mạch ghép bị tắc lại khoảng 50%. Các tĩnh mạch ghép có thể hẹp trở lại sau 5 năm đầu do các tế bào bám vào lớp niêm mạc bên trong phát triển lên hình thành mô sẹo (xơ hóa nội mạc) và mảng xơ vữa. Sau 10 năm, chỉ khoảng 2/3 tĩnh mạch ghép còn thông và 1/2 trong số đó bị hẹp ít nhất là ở mức độ trung bình. Nếu ghép bằng động mạch vú trong, tỷ lệ còn thông sau 10 năm cao hơn nhiều (90%). Sự khác nhau này làm thay đổi kỹ thuật mổ theo hướng sử dụng động mạch vú trong và những động mạch khác để ghép nhiều hơn là dùng tĩnh mạch.

Những số liệu gần đây cho thấy những bệnh nhân đã được phẫu thuật bắc cầu chủ vành có tăng LDL cholesterol trong máu nếu sử dụng thuốc hạ cholesterol (nhóm statin) để làm giảm nồng độ LDL cholesterol xuống dưới 1.8 mmol/L sẽ cải thiện đáng kể tình trạng còn thông của mạch ghép theo thời gian cũng như cải thiện khả năng sống còn và nguy cơ nhồi máu cơ tim cấp. Việc theo dõi thường xuyên bằng khám định kỳ có thể giúp phát hiện sớm được những vấn đề của mạch ghép. Khi mạch ghép bị tái hẹp hoặc tắc, phẫu thuật lại là cần thiết nhưng nguy cơ biến chứng cao hơn so với phẫu thuật lần đầu.  Can thiệp mạch máu qua da (đặt stent) có thể là một lựa chọn thay thế cho  phẫu thuật bắc cầu chủ vành  ở những bệnh nhân bị hẹp hoặc tắc cầu nối sau phẫu thuật lần đầu.

Bạn cũng cần hiểu rõ về tầm quan trọng của thay đổi lối sống để hạn chế tối đa khả năng hình thành mảng xơ vữa ở động mạch vành và các cầu nối trong tương lai. Thay đổi lối sống bao gồm: ngưng hút thuốc lá, tập thể dục, giảm cân và kiêng chất béo, kiểm soát huyết áp và đái tháo đường.

 

Source: https://www.nhlbi.nih.gov/health-topics/coronary-artery-bypass-grafting

VNM/NONCMCGM/0318/0005m