Bệnh Lý Tim Mạch 12:07 01/07/2018

NONG VÀ ĐẶT STENT ĐỘNG MẠCH VÀNH

Đối với người mắc bệnh lý tim mạch vành nặng (Coronary Heart Disease - CHD), việc sử dụng phương pháp nong và đặt stent mạch vành được lựa chọn điều trị để giảm đau thắt ngực và ngăn ngừa nguy cơ nhồi máu cơ tim, hạn chế tổn thương cho tim.

Tổng quan

Nong mạch vành, còn gọi là phương pháp can thiệp mạch vành qua da (PCI), là một thủ thuật dùng để tái thông lòng động mạch vành bị tắc hẹp. Thủ thuật nong động mạch được thực hiện bằng cách đưa một ống thông rất nhỏ phía đầu có gắn một quả bóng vào nơi động mạch bị hẹp tắc, sau đó bóng được bơm phồng lên để giúp mở rộng lòng mạch. Hiện nay, phương pháp nong mạch vành thường được kết hợp việc đặt một giá đỡ bằng hợp kim đặc biệt (thường gọi là “stent”) để giúp giữ cho lòng mạch mở rộng và dòng máu lưu thông qua tốt hơn.

Trường hợp nào cần nong và đặt stent mạch vành?

Giống như mọi cơ quan khác trong cơ thể, tim cũng cần được cung cấp đủ máu giàu oxy cho những hoạt động liên tục của mình. Các động mạch cung cấp máu cho tim được gọi là động mạch vành, nằm trên bề mặt của tim. Khi mảng xơ vữa xuất hiện trong lòng động mạch vành, dòng máu bị cản trở tới nuôi tim, khiến các tế bào tim hoạt động trong tình trạng thiếu oxy, gây ra các cơn đau thắt ngực.

Những cơn đau thắt ngực có thể tự hết khi người bệnh nghỉ ngơi trong thời gian ngắn hoặc được điều trị bằng thuốc giãn mạch vành. Tuy nhiên, nếu thuốc không hoặc ít có tác dụng thì khi đó, nong và đặt stent mạch vành sẽ được lựa chọn để điều trị để giảm đau thắt ngực và ngăn ngừa nguy cơ nhồi máu cơ tim.

Không phải tất cả mọi trường hợp đều có thể áp dụng phương pháp nong và đặt stent động mạch vành. Trong một số trường hợp cụ thể (tổn thương thân chung động mạch vành trái, tổn thương nhiều nhánh hay tổn thương phức tạp,…) phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành là một phương pháp điều trị có thể được cân nhắc. Quyết định can thiệp nong và đặt stent động mạch vành hay phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành sẽ được lựa chọn tùy thuộc vào mức độ tổn thương và tình trạng bệnh lý tổng thể của người bệnh.

Rủi ro trong và sau khi nong và đặt stent động mạch vành

Mặc dù là một phương pháp ít xâm lấn hơn so với phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành, nhưng cũng giống như tất cả các phương pháp can thiệp hay phẫu thuật khác, nong và đặt stent động mạch vành cũng có thể có những rủi ro và biến chứng. Các biến chứng phổ biển nhất bao gồm:

  •  Tái hẹp động mạch vành: xảy ra ở khoảng 30% các trường hợp sau khi nong động mạch vành mà không đặt stent. Stent được tạo ra để giảm thiểu nguy cơ này. Có 2 loại stent: stent kim loại không bọc thuốc giúp giảm nguy cơ bị tái hẹp xuống khoảng 15%, và các loại stent phủ thuốc mới giảm nguy cơ này còn dưới 10%.
  • Huyết khối trong stent: huyết khối có thể hình thành ngay trong lòng stent sau khi đặt. Những huyết khối này có thể làm động mạch vành tắc nghẽn trở lại, gây ra nhồi máu cơ tim cấp. Việc sử dụng các thuốc chống hình thành huyết khối như aspirin, clopidogrel, prasugrel, ticagrelor… theo chỉ định của bác sỹ là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ hình thành huyết khối trong stent.

Ngoài ra còn có các nguy cơ biến chứng thấp khác và thường ít nghiêm trọng, gồm có:

  • Chảy máu và tụ máu dưới da tại vị trí chọc mạch đưa ống thông vào (tỷ lệ khoảng 5%).
  • Tổn thương động mạch ống thông đi qua (dưới 1%)
  • Dị ứng thuốc cản quang (dưới 1%)
  • Tổn thương động mạch vành (dưới 1/350 trường hợp)
  • Mất máu nhiều, phải truyền máu (dưới 1%)
  • Nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong (dưới 1%)

Chuẩn bị gì trước khi nong và đặt mạch vành?

Điều quan trọng nhất là thực hiện đúng những chỉ dẫn của bác sĩ.

Trước khi tiến hành nong mạch vành, bác sĩ sẽ hỏi kỹ quá trình bệnh lý và các bệnh kèm theo của người bệnh, khám toàn diện, làm các xét nghiệm và tiến hành chụp động mạch vành để đánh giá mức độ tổn thương động mạch vành và cân nhắc biện pháp điều trị phù hợp.

Trong chụp động mạch vành, chất cản quang được tiêm vào động mạch vành qua ống thông rất nhỏ (catheter) luồn từ động mạch ở cổ tay hoặc bẹn. Khi chất cản quang được bơm đầy vào các động mạch vành, bác sỹ có thể quan sát được các mạch đó trên màn hình X-quang và có thể nhìn thấy vị trí, mức độ tổn thương các động mạch bị hẹp, tắc. Phương pháp nong và đặt stent động mạch vành có thể được thực hiện tiếp ngay sau khi chụp mạch, qua chính đường ống thông vừa đặt trước đó.

Về vấn đề ăn uống, người bệnh vẫn có thể ăn uống nhẹ trước khi tiến hành nong và đặt stent động mạch vành.

Trước khi tiến hành thủ thuật, bác sĩ có thể sẽ điều chỉnh hoặc cho ngừng sử dụng một số loại thuốc nhất định, chẳng hạn như thuốc đái tháo đường.

Quá trình nong và đặt stent động mạch vành được thực hiện như thế nào?

Một vết rạch rất nhỏ trên da qua một mạch máu ở cổ tay hoặc đùi để luồn một ống thông nhỏ (ống catheter) vào lòng mạch lên đến động mạch vành tại tim. Quá trình nong và đặt stent động mạch vành có thể mất đến vài giờ, tùy thuộc vào độ phức tạp của tổn thương và số vị trí tắc nghẽn trong động mạch, cũng như việc có xảy ra các biến chứng trong quá trình làm thủ thuật hay không.

Nong và đặt stent động mạch vành được thực hiện bởi một nhóm bác sỹ tim mạch có kinh nghiệm và can thiệp động mạch vành và một đội ngũ điều dưỡng và kỹ thuật viên chuyên khoa tim mạch, trong một phòng thủ thuật đặc biệt gọi là phòng thông tim.

Nong mạch vành thường được thực hiện thông qua một động mạch vùng cổ tay (hiện nay được khuyến cáo sử dụng thay cho đường động mạch đùi). Trước khi tiến hành, vùng da cổ tay hoặc bẹn sẽ được sát trùng và một tấm toan vô trùng được phủ lên khắp cơ thể bạn chỉ để lộ vị trí chọc mạch.

Thuốc tê được tiêm để làm tê cục bộ tại khu vực chọc mạch, nơi ống thông sẽ được đưa vào. Các miếng điện cực nhỏ được dán trên người bạn nhằm theo dõi nhịp tim trong suốt quá trình phẫu thuật.

  • Sau khi làm tê tại chỗ, một cây kim nhỏ được sử dụng để mở động mạch cổ tay.
  • Bác sĩ sau đó sẽ luồn một dây dẫn đường mảnh vào tới động mạch vành, và sau đó là một ống thông nhỏ được đưa vào vị trí bị hẹp hoặc tắc ở động mạch vành.
  • Bạn sẽ cảm thấy hơi tức nặng tại khu vực nơi ống thông được đưa vào nhưng sẽ không đau nhiều. Nếu cảm thấy đau hãy nói với bác sĩ làm thủ thuật. Bạn cũng sẽ không cảm thấy ống thông trong cơ thể.
  •  Một lượng nhỏ thuốc cản quang được bơm qua ống thông cho phép bác sĩ nhìn thấy những vị trí tổn thương trên màn hình X-quang, quá trình này được gọi là chụp mạch.
  •  Quả bóng nhỏ ở cuối ống thông được bơm căng lên, nong rộng động mạch bị tắc nghẽn. Sau khi động mạch được nong giãn ra, quả bóng được làm xẹp lại. Bác sĩ có thể bơm căng và làm xẹp bóng một vài lần trước khi rút ra, mỗi lần như vậy động mạch vành lại được nong giãn ra thêm một chút.

 Đặt Stent động mạch vành:

  • Phần lớn những người được nong động mạch vành đều được đặt luôn stent tại chỗ động mạch vành bị tắc hẹp trong cùng quá trình thủ thuật đó. Stent thường được đưa vào động mạch vành sau khi động mạch này được nong rộng bằng bóng.
  • Stent là một giá đỡ kim loại, nâng đỡ các thành của động mạch, ngăn cho động mạch khỏi tái hẹp sau nong.
  • Đầu tiên, stent ở trạng thái thu gọn nằm bao quanh bóng ở đầu ống thông, được luồn vào trong động mạch và đưa đến vị trí tắc hẹp.
  • Tại vị trí tắc hẹp, bóng được bơm lên, và stent sẽ nở rộng ra, áp vào mặt trong thành động mạch
  • Stent kim loại sẽ nằm tại vị trí đó vĩnh viễn để giữ cho lòng mạch mở rộng, cải thiện dòng máu nuôi dưỡng tim. Trong nhiều trường hợp cần phải đặt nhiều hơn một stent để mở thông một đoạn tắc hẹp dài. Ngày nay, một số loại stent mới có thể tự tiêu đi sau một thời gian nhất định (khoảng 2 – 4 năm), được gọi là stent tự tiêu. Hãy trao đổi với bác sỹ của bạn trước khi làm thủ thuật để biết có những loại stent nào có thể phù hợp đặt vào động mạch vành của bạn.
  • Sau khi stent được đặt vào lòng mạch, bóng được làm xẹp và lấy ra. Bác sỹ làm thủ thuật sẽ chụp thêm một số góc chụp mạch để kiểm tra kết quả dòng máu chảy qua vị trí vừa được đặt stent.
  • Cuối cùng, ống thông can thiệp được rút ra, vị trí chọc mạch được băng ép lại để cầm máu và thủ thuật hoàn tất. 
  • Sau khi đặt stent, bạn sẽ cần điều trị thuốc lâu dài theo chỉ định của bác sỹ, như aspirin, clopidogrel hay ticagrelor, để giảm thiểu nguy cơ hình thành huyết khối trong stent.

Làm gì để phục hồi sau khi nong mạch vành?

Sau khi xuất viện, người bệnh cần trao đổi kỹ với bác sĩ về các loại thuốc được kê trong đơn, hỏi về các phương pháp thể dục, chế độ ăn uống khỏe mạnh cho trái tim, cách chăm sóc vết thương, cách vệ sinh cá nhân sau thủ thuật và thực hiện theo đúng hướng dẫn của bác sĩ.

  • Vị trí luồn ống thông để can thiệp có thể bị nhiễm trùng vì vậy cần được theo dõi và giữ vệ sinh sạch sẽ hàng ngày. Bạn vẫn có thể còn đau tức ngực sau can thiệp nhưng sẽ chấm dứt trong vòng vài ngày. Tuy nhiên, bạn cần cho bác sỹ điều trị của bạn biết nếu còn đau ngực nhiều. Sau can thiệp, bạn nên uống nhiều nước để giúp thận đào thải nhanh thuốc cản quang ra khỏi cơ thể.
  • Bạn có thể trở lại làm việc sau một tuần, nhưng nên tránh các công việc nặng nhọc, phải dùng sức lực. Nên tham vấn bác sĩ điều trị của bạn thật kỹ về các hạn chế hoạt động khác.
  • Các hoạt động tình dục có thể bắt đầu lại khi cảm thấy sức khỏe đã được hồi phục tốt.

Ngay lập tức báo cho bác sĩ điều trị của bạn biết nếu:

  • Vị trí nơi đưa ống thông vào bị chảy máy hoặc sưng, đau.
  • Bạn có các dấu hiệu nhiễm trùng tại vị trí đó như sưng, đỏ, chảy mủ hoặc bị sốt
  • Bạn thấy choáng váng hoặc mệt mỏi
  • Bạn thấy đau ngực hoặc khó thở

Các thuốc điều trị sau khi nong và đặt stent

  • Việc bạn tuân thủ chặt chẽ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ về những thuốc kháng kết tập tiểu cầu và chống đông máu như aspirin, clopidogrel, ticagrelor, statins và các thuốc điều trị bệnh đồng thời khác là rất quan trọng.
  • Phần lớn mọi người sau khi được nong mạch vành dù có đặt stent hay không sẽ phải uống thuốc aspirin suốt đời. Những người được đặt stent sẽ cần dùng những loại thuốc chống đông máu như clopidogrel trong vòng một năm hoặc lâu hơn. Nếu bạn cần phải được phẫu thuật hay làm một thủ thuật gây chảy máu bất kỳ như nhổ răng, hãy trao đổi kỹ với bác sĩ điều trị của bạn trước khi ngưng uống những loại thuốc này.

Sau khi nong mạch, bạn cần duy trì lối sống lành mạnh để ngăn ngừa tái tắc hẹp mạch vành:

  •  Giảm cân ngay nếu đang thừa cân, béo phì, duy trì cân nặng hợp lý
  • Ngưng hút thuốc lá
  • Ăn một chế độ ăn uống lành mạnh, hạn chế ăn các loại thực phẩm giàu chất béo, tinh bột đường và muối ăn, tăng cường rau xanh, hoa quả tươi.
  • Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao
  • Kiểm soát tốt các tình trạng bệnh lý khác như đái tháo đường, tăng huyết áp và nồng độ cholesterol trong máu

Nong mạch vành cải thiện đáng kể lưu lượng máu chảy qua đoạn mạch vành bị tắc hẹp. Đau ngực thường sẽ giảm, và khả năng vận động thể lực của bạn sẽ được cải thiện. Việc nong bóng và đặt stent không có nghĩa là bệnh lý tim mạch của bạn sẽ biến mất. Bạn vẫn cần duy trì lối sống lành mạnh và dùng thuốc đều đặn như chỉ dẫn của bác sĩ. Rủi ro này có thể ngăn chặn được bằng cách thay đổi và duy trì một lối sống lành mạnh, tuân thủ thuốc điều trị, và tái khám đều đặn theo chỉ định của thầy thuốc.

 

Nguồn: https://www.mayoclinic.org/tests-procedures/coronary-angioplasty/about/pac-20384761

 

VNM/NONCMCGM/0318/0005m