Bệnh Lý Tuyến Giáp 12:07 01/07/2018

BỆNH CƯỜNG GIÁP TRONG THAI KỲ

Cường giáp là tên gọi chung của một nhóm bệnh lý tuyến giáp có cùng đặc điểm tăng tiết hormone tuyến giáp, phổ biến nhất là bệnh Graves, hay được gọi là bệnh bướu giáp độc lan tỏa hoặc bệnh cường giáp tự miễn. Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, kể cả với phụ nữ mang thai. Bất kỳ dạng cường giáp nào không được kiểm soát tốt cũng có thể làm cho việc mang thai trở nên nguy hiểm. Vậy nếu bạn được chẩn đoán mắc cường giáp khi đang mang thai, bạn sẽ cần hiểu rõ về bệnh để đảm bảo có một quá trình thai nghén an toàn cho cả bạn và thai nhi.

Tổng quan về Cường giáp trong thai kỳ

Triệu chứng của cường giáp rất đa dạng, liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau trong cơ thể.

Khi phụ nữ bắt đầu có thai, nồng độ hormone HCG trong máu và nước tiểu sẽ tăng cao. Khi bạn thử test nhanh bằng que thử thai, chính là bạn phát hiện hormone này.

Hormon HCG tăng cao nhất trong máu vào khoảng tuần thứ 12 của thai kỳ, là một phần nguyên nhân gây ra buồn nôn cho bà mẹ trong quý đầu mang thai. Trong những tình huống đa thai (sinh đôi, sinh ba) mức HCG thậm chí còn cao hơn, và các triệu chứng có thể sẽ rõ rệt hơn.

Đặc biệt, hormone này còn có tác dụng kích thích lên tuyến giáp gây tăng tiết hormon, kết quả là có thể gây ra một số triệu chứng cường giáp.

Có khoảng 10-20% trường hợp thai nghén bình thường (không mắc bệnh lý tuyến giáp) có biểu hiện cường giáp thoáng qua ở trong giai đoạn 3 tháng tháng đầu của thai kỳ. Trong giai đoạn này, thai phụ có thể xuất hiện nôn nhiều, kèm theo sụt cân nhẹ (khoảng 5%) so với trọng lượng ban đầu, mất nước và thay đổi điện giải. Tuy nhiên, tình trạng cường giáp này thường sẽ tự hết khi thai kỳ bước sang giai đoạn tiếp theo.

Điều đáng nói là các biểu hiện của nghén (như buồn nôn, ói mửa và giảm cân hơn 5% trong thời kỳ đầu mang thai kết hợp với nồng độ HCG cao) cũng tương tự như các triệu chứng của cường giáp, nên việc chẩn đoán cường giáp trong 3 tháng đầu của thai kỳ tương đối khó khăn.

Trong khi những biểu hiện trên thường là không nguy hiểm và chỉ liên quan đến những thay đổi của 3 tháng đầu thai kỳ, những phụ nữ đã bị cường giáp trước khi mang thai lại tiềm ẩn nhiều vấn đề khác.

Nếu tình trạng cường giáp không được kiểm soát trong thai kỳ, người mẹ và thai nhi sẽ có nhiều nguy cơ:

  • Sảy thai tự nhiên
  • Đẻ non
  • Trẻ sinh nhẹ cân
  • Thai lưu
  • Những biến chứng sản khoa như tiền sản giật (một tình trạng liên quan đến tăng huyết áp, giảm tiểu cầu, protein niệu, rối loạn ý thức) hay suy tim…

Lựa chọn hình thức điều trị Cường giáp trong thai kỳ

Bệnh Graves.

Việc chẩn đoán cường giáp trong thai kỳ có thể gặp khó khăn vì một số chỉ số xét nghiệm máu được sử dụng để chẩn đoán bệnh cũng thay đổi khi mang thai. Việc chẩn đoán dựa trên mức độ tăng của các hormon tuyến giáp (T3, T4, FT3, FT4) và nồng độ hormone kích thích tuyến giáp (TSH) thấp.

Việc điều trị cường giáp trong thai kỳ bị hạn chế vì phải cân nhắc đến sự an toàn của em bé. Thông thường, các thuốc như propylthiouracil (PTU) và methimazole (MMI) được dùng để điều trị. Tuy các thuốc này có thể đi qua hàng rào nhau thai và xâm nhập vào thai, việc điều trị vẫn cần được ưu tiên hơn vì nếu không, bệnh có thể dẫn đến những kết cục nặng nề cho cả mẹ và bé. Thuốc PTI được ưu tiên sử dụng hơn vì MMI được phát hiện có liên quan đến một tình trạng rối loạn việc hình thành da đầu em bé có tên là Aplasia Cutis (bệnh bất sản da).

Các thuốc làm chậm nhịp tim của người mẹ cũng cần thiết trong trường hợp nhịp tim tăng quá nhanh. Các loại thuốc có thể được sử dụng trong thai kỳ là nhóm chẹn bêta giao cảm nhưng cần thận trọng trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ. Một số ảnh hưởng lên thai nhi có thể gặp khi sử dụng các loại thuốc này gồm thai chậm phát triển (nhẹ cân), đường huyết thấp khi sinh hay nhịp tim chậm.

Vì xạ trị không an toàn cho thai nhi, phẫu thuật có thể là lựa chọn duy nhất còn lại cho những phụ nữ không dung nạp tốt với phương pháp điều trị bằng thuốc. Tuy nhiên, phương pháp phẫu thuật cũng có thể làm tăng nguy cơ sinh non và sẩy thai tự nhiên.

Trong số các em bé sinh ra ở phụ nữ mắc bệnh Graves, khoảng 1% sẽ bị cường giáp khi sinh. Nguyên nhân do các kháng thể kích thích thụ thể TSH đi qua rau thai vào em bé. Những kháng thể này sau đó kích thích tuyến giáp của bé làm tăng tiết hormone tuyến giáp. Phụ nữ mang thai mắc cường giáp cần được định lượng nồng độ hormone tuyến giáp trong ba tháng giữa của thai kỳ, bởi nếu các giá trị này lớn hơn 5 lần bình thường có thể dẫn đến cường giáp ở em bé sau sinh. Ở thai nhi còn trong bụng mẹ, nhịp tim thai cao (lớn hơn 160 nhịp / phút), bướu cổ ở thai nhi quan sát thấy khi siêu âm thai, thai chậm phát triển và bất thường hệ xương là những dấu hiệu của cường giáp ở thai nhi. Nếu những điều này được chẩn đoán sớm, người mẹ có thể được cho dùng thuốc (PTU hoặc MMI) để giúp điều trị cho thai nhi. Sau khi sinh, cường giáp được phát hiện bằng xét nghiệm máu. Trọng lượng sơ sinh thấp, gan hoặc lách to và bất thường hình dạng của hộp sọ có thể là dấu hiệu của cường giáp ở trẻ sơ sinh.

 Phụ nữ bị cường giáp có thể nuôi con bằng sữa mẹ khá an toàn kể cả khi sử dụng thuốc PTU và MMI. Mặc dù các y văn cũ không khuyến khích việc cho con bú khi uống thuốc này, các nghiên cứu mới đây đã chỉ ra rằng các nồng độ các loại thuốc này trong sữa mẹ là rất thấp, đặc biệt là với PTU.

Tóm lại, hội chứng cường giáp có thể xảy ra do những thay đổi nội tiết tố trong 3 tháng đầu của thai kỳ, thường tình trạng này không nguy hiểm và tự khỏi. Ở những phụ nữ vốn đã có bệnh nền là cường giáp, đặc biệt là bệnh Graves, việc không kiểm soát được bệnh có thể có những ảnh hưởng bất lợi trong thai kỳ cho cả mẹ và trẻ. Cách tốt nhất để tránh các biến chứng của cường giáp trong thai kỳ là đảm bảo bệnh được kiểm soát trước khi thụ thai.

Nếu bạn bị cường giáp và đang cân nhắc về việc lập gia đình trong tương lai gần, hãy thảo luận với bác sĩ và cân nhắc việc phẫu thuật hoặc xạ trị sớm trước khi mang thai. Hãy nhớ rằng khi mang thai, luôn có 2 bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị: người mẹ và bé. Việc theo dõi, thăm khám sát sao và thường xuyên bởi bác sỹ chuyên khoa trong suốt thai kỳ sẽ đảm bảo kết quả tốt nhất cho cả mẹ và bé.

 

Nguồn: https://www.medicinenet.com/hyperthyroidism_and_pregnancy/views.htm

 

VNM/NONCMCGM/0318/0005m